Xã Kép hiện có 49 thôn với 11.496 hộ dân. Dân số toàn xã có trên 42,3 nghìn người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 22,36%. Mỗi dân tộc trên địa bàn xã Kép đều có một bản sắc văn hoá riêng, tạo nên nét văn hoá truyền thống đặc sắc, góp phần làm phong phú truyền thống văn hoá trên địa bàn xã.
Cũng như các vùng quê khác, ngày Tết nguyên đán ở xã Kép còn lưu giữ rất nhiều phong tục đẹp. Cả một năm bận rộn, vào những ngày cuối năm, các gia đình thường quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, trang trí lại bàn thờ; mua sắm thêm một số thức ăn, vật dụng... Đặc biệt ở các vùng nông thôn, dù nghèo đến mấy, gia đình nào cũng chuẩn bị gạo nếp, đỗ, lá rong... để gói bánh chưng. Nhiều gia đình còn nhắc nhở, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở đi không được quấy khóc; nghịch ngợm, cãi cọ nhau. Cha mẹ, anh chị cũng không được quở trách, mắng mỏ con trẻ. Đối với bà con láng giềng, dù trong năm cũ có điều gì hiềm khích, cũng thường xí xoá bỏ qua khi sang năm mới. Tết đến, mọi người, mọi nhà thường chúc nhau những lời chúc tốt lành. Đối với trẻ em, không có gì vui hơn khi tết đến, xuân về được quà mừng tuổi. Đầu năm mới còn rất nhiều phong tục khác đến nay vẫn được lưu truyền như tục chọn người hợp tuổi với gia chủ đến xông nhà. Những người kinh doanh thì chọn ngày mở hàng, để mong một năm mới làm ăn được thuận lợi, may mắn.v.v…
Ngoài những nét văn hóa ngày Tết thông dụng, người Nùng trên địa bàn xã lại có những nét riêng. Khác với dân tộc Kinh và một số dân tộc khác, ngoài thờ tổ tiên, người Nùng còn có phong tục thờ Táo Quân. Bàn thờ Táo Quân được đặt ngay cạnh bếp nấu ăn hàng ngày. Cũng như người Kinh, người Nùng cúng Táo Quân vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch với ý nghĩa tiễn đưa Táo Quân về chầu trời để báo với Ngọc Hoàng tình hình một năm làm việc ở hạ giới. Đến tối mùng 1Tết, lại làm lễ đón Táo Quân về để ăn Tết và bước vào một năm làm việc mới. Ngoài Tết nguyên đán, trong năm, người Nùng còn có khá nhiều ngày lễ, tết như: tết thanh minh (mùng 3/3 âm lịch); tết đoan ngọ (mùng 5/5 âm lịch), hội sản đình (tổ chức vào tháng Tư âm lịch để cầu trời mưa thuận, gió hoà); ngày tết xá tội vong nhân (14/7 âm lịch); lễ cúng cơm mới (15/8 âm lịch)... song Tết nguyên đán được tổ chức long trọng nhất và có nhiều tín ngưỡng nhất. Bữa cơm sum họp tối 30 Tết của người Nùng bao giờ cũng có thịt vịt và mọi người trong gia đình phải ăn cho hết. Người Nùng quan niệm vịt rất xui xẻo cho nên phải ăn hết thịt vịt để tống tiễn cái xui xẻo của năm cũ, chuẩn bị đón các may của năm mới.
Ngày mùng 01 tết, phụ nữ Nùng thường ra giếng múc nước về để cúng và nấu ăn; đàn ông thì mang lễ ra miếu cúng. Trong ngày mùng 01 Tết, người Nùng không giết mổ động vật, không quét nhà, quét sân. Đến mùng 02 Tết, các gia đình mới thịt gà để cúng tổ tiên, cúng thổ công và cúng thần trông coi gia súc. Sáng mùng 03 Tết, người Nùng thường tổ chức lễ hội lùng tùng (hội xuống đồng), bắt đầu một năm làm ăn mới. Các ông thày lang cũng thường chọn ngày mùng 03 Tết để vào rừng lấy cây thuốc.
Tết nguyên đán của người Nùng thường kéo dài đến ngày rằm tháng Giêng âm lịch. Trong những ngày này, các gia đình trong nội tộc đi chúc tết nhau. Con cháu phải mang lễ vật đến nhà bố mẹ vợ, ông bà ngoại để cúng tổ tiên và chúc tết mọi người bên ngoại. Gia đình bên họ ngoại thường tổ chức bữa cơm sum họp và mừng tuổi bằng tiền cho con cháu. Còn những người trong họ nội không phải đem lễ vật biếu tết mà chỉ chúc tụng nhau và uống rượu.
Đối với người dân tộc Sán Dìu, theo phong tục, những ngày giáp Tết, phần lớn mọi nhà tự chưng cất rượu để uống và mời khách trong những ngày xuân. Men rượu được làm từ các loại thảo dược bổ dưỡng như vạt hương, tai chó, cây trăm rễ... Quá trình nấu rượu cũng hết sức cầu kỳ, công phu như gạo nấu phải ngon, đun đều lửa. Rượu men lá có hương vị thơm nồng, dễ uống, say êm. Ngày 30 tết, các gia đình đều thịt lợn làm giò, chả, nem cùng nhiều thực phẩm mang đậm nét đặc trưng ngày Tết. Trên bàn thờ tổ tiên, ngoài bánh chưng, thịt lợn, thịt gà, rượu trắng, bánh kẹo hoa quả và đồ vàng mã, không thể thiếu 2 cây hoa cải vàng. Đây là biểu tượng của một năm mùa màng bội thu, thắng lợi; mọi người mạnh khỏe, đoàn kết. Dịp Tết, các gia đình hay mời thày cúng đến làm lễ tại nhà. Trên bàn thờ, đều dán bùa trấn trạch để trừ ma, quỷ. Sáng mồng một tết, người Sán Dìu không ăn mặn mà ăn chay. Một nét đẹp văn hóa đặc sắc của người Sán Dìu trong những ngày Tết là việc tổ chức hát Sọong cô. Theo tiếng Sán Dìu, Sọong nghĩa là hát, còn cô nghĩa là ca. Ở từng thôn, từng tốp thanh niên, trung niên thậm chí cả người cao tuổi, mỗi tốp gồm khoảng 4-8 người, bên nam, bên nữ tập trung hát ở nhà văn hóa hoặc sân đình, chùa, thậm chí trong khu vườn rộng. Trong những ngày xuân, đồng bào dân tộc Sán Dìu thường tổ chức nhiều trò chơi dân gian và hoạt động thể thao. Đây là những trò chơi phổ biến trong những ngày Tết, lễ hội và được lưu truyền từ đời này, qua đời khác.
Mỗi dân tộc, vùng quê trên địa bàn xã có những phong tục độc đáo, nét riêng trong đón Tết nguyên đán. Nhưng tất cả đều với mong muốn, mong cho năm mới mưa thuận, gió hòa, mọi người no đủ mạnh khỏe và bình an đến!
Dương Uyên